Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Bảng giá thiết bị cửa tự động hồng ngoại Hàn Quốc nhãn hiệu RitsN năm 2015

logo

CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ NỘI THẤT THIÊN ĐỨC 
Văn phòng: Số 352 Giải Phóng - Thanh Xuân - Hà Nội
Điện thoại : 84-4-3.66.7088   -   0422 406 840       Fax: 84-4-366.7086
Email: autodoor2010@gmail.com
Website: www.thienduc.com.vn    hoặc    www.autodoorvietnam.com
Văn phòng miền Nam:


BẢNG GIÁ
                         Ngày 20  tháng 05 năm 2013

Kinh gửi:

Quý khách hàng

Công ty chúng tôi trân trọng gửi tới Quý khách hàng bảng báo giá sản phẩm cửa tự động và cổng tự động  như sau:

I - Bộ thiết bị tiêu chuẩn ( Standard)  cửa tự động trượt cánh RITS-N,Korea
TT Model Mô tả sản phẩm Đơn vị Giá bán            (USD)
1 Rados 100S/60W Bộ cửa tự động  tiêu chuẩn  RITS-N, Korea. Ray cửa tự động dài 2,5 m Bộ 1,430
2 Rados 100S/60W Bộ cửa tự động  tiêu chuẩn  RITS-N, Korea. Ray cửa tự động dài 3, m Bộ 1,480
3 Rados 100S/90W Bộ cửa tự động  tiêu chuẩn  RITS-N, Korea. Ray cửa tự động dài 2,5 m Bộ 1,500
4 Rados 100S/90W Bộ cửa tự động  tiêu chuẩn  RITS-N, Korea. Ray cửa tự động dài 3 m Bộ 1,550
5 Rados 100D/60W Bộ cửa tự động  tiêu chuẩn  RITS-N, Korea. Ray cửa tự động dài 4,2 m Bộ 1,550
6 Rados 100D/90W Bộ cửa tự động  tiêu chuẩn  RITS-N, Korea. Ray cửa tự động dài 4,2 m Bộ 1,600
7 Rados 100D/90W Bộ cửa tự động  tiêu chuẩn  RITS-N, Korea. Ray cửa tự động dài 5 m Bộ 1,700
8 Rados 100D/90W Bộ cửa tự động  tiêu chuẩn  RITS-N, Korea. Ray cửa tự động dài 6 m Bộ 1,800
Ghí chú :
Model Rados 100S : cửa tự động 1 cánh 
Model Rados 100D: cửa tự động 2 cánh
Thông số kỹ thuật theo Catalogue gửi kèm theo của hãng Rits-n
Bộ cửa tiêu chuản RITS-N, korea:
01 máy tính trung tâm AT100
01 Mô tơ  Rits-n 1 chiều 24V - 60W hoặc 90W
01 puly không tải.
01 Cuộn dây curoa S8M, korea
02 con lăn cho cửa đơn hoặc 04 con lăn cho cửa đôi.
02 bộ gá + 02 dẫn hướng + 02 chốt chặn + 1 bộ túi vít 
01 ray nhôm hợp kim ( theo từng model )
01 Nắp đậy nhôm ( theo từng model)
02 Sensor mắt thần cảm biến Ms 361, Ms 701 hoặc Ms 730 Bi
01 Bộ cảm biến an toàn cho cửa tự động, tự động đổi chiều khi có vật cản.

II - Các thiết bị lựa chọn thêm ( Options) cửa tự động trượt cánh RITS-N,Korea
TT Model Mô tả sản phẩm Đơn vị Giá bán        (USD)       
1 MTR/DAW-5 01 Bộ nhận tín hiệu MTR và 02 chiếc công tắc không dây DAW-5 Bộ 140
2 MTR/FT-240 01 Bộ nhận tín hiệu MTR và 02 chiếc tay điều khiển từ xa Bộ 140
3 DAW- 6 Công tắc có  dây Cái 30
4 DAW- 5 Công tắc không dây Cái  50
5 FT-240 Điều khiển từ xa  50
6 SMJ-1,2,3 Công tắc mở cửa cho người tàn tật và toilet Bộ 160
7 Wireless SMJ Công tắc mở cửa cho người tàn tật và toilet không dây Bộ 200
8 SK-10DA Bộ cảm biến an toàn đơn gồm 01 bộ cầu đấu đơn và 1 cặp dây và mắt cảm biến  Bộ 50
9 SK-20DB Bộ cảm biến an toàn đôi gồm 01 bộ cầu đấu đôi và 2 cặp dây và mắt cảm biến  Bộ
10 Lens & Wire beam Bộ dây và mắt cảm biến an toàn Bộ 30
11 RC-200 Công tắc khóa đầu đọc thẻ  Cái 80
12 BK100 Bộ Lưu điện  Cái  110
13 FS600 Bộ công tắc 6 chế độ hoạt động cửa tự động Cái 120
14 MS 361 Mắt cảm biến radar sensor  Cái  60
15 MS701 Mắt cảm biến radar sensor  Cái  60
16 MS 730 Bi Mắt cảm biến radar sensor  Cái 70
III- Các loại cửa tự động RITS-N Korea đặc biệt
TT Model Mô tả sản phẩm Đơn vị Giá bán        (USD)
1 Rados 300D/90W Cửa tự động trượt 4 cánh, ray 4,2 m, không nắp  Bộ Liên hệ
2 Rados 500D/90W Cửa tự động trượt cánh , có thể mở cánh khi cần, ray nhôm 4,2 m, không nắp  Bộ 1,700
3 Rados 700D/90W Cửa tự động trượt cánh cong, ray nhôm 4,2 m, không nắp Bộ Liên hệ
4 Rados 900D/90W Cửa tự động trượt tải trọng lớn cho cánh công nghiệp, Ray nhôm 6m, không nắp  Bộ 1,800
Báo giá trên chưa bao gồm thuế VAT 10%, chi phí lắp đặt
Báo giá trên chưa bao gồm kẹp kính, cánh kính hoặc cánh inox, chưa bao gồm gia cố đá sắt nếu có.
Thanh toán 50% khi đặt hàng, 50% sau khi giao hàng.
Thanh toán bằng tiền mặt / chuyển khoản
Rất mong được sự hợp tác của Qúy công ty
Nguyễn Đăng Trình
Tel: 04.36687088  /   0422 406 840  - Fax: 04.36687086
Mobile: 0904 654 816
Email: autodoor2010@gmail.com
YM:    orena215
Skype: autodoor2010
Hotline : 0904 654 816
Best Quality and Professional service
Distributor Automatic Door System of RITS-N brand
www.autodoorvietnam.com

Video cổng tự động Life Home



Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Barrie tự động tay cần thẳng



Sự phát triển toàn cầu của Sensor hình ảnh


Sự kết hợp của tiến bộ công nghệ và nhu cầu ứng dụng cảm biến hình ảnh đã thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường cảm biến hình ảnh trên thế giới.
Cảm biến hình ảnh được sử dụng chủ yếu trong các máy ảnh kỹ thuật số và một số lượng lớn các thiết bị hình ảnh trong công nghiệp, phương tiện truyền thông, y tế, và các ứng dụng của người dùng. Do sự tăng trưởng trong nhu cầu về máy ảnh, máy quay, điện thoại di động đa phương tiện, và camera an ninh… Thị trường cảm biến hình ảnh đang có những sự tăng trưởng đáng kể. Cạnh tranh trong thị trường cảm biến hình ảnh ngày càng ác liệt, với sự đầu tư của các nhà sản xuất trong các tiêu chuẩn về kích thước điểm ảnh, số lượng điểm ảnh, độ phân giải, hiệu suất và năng lượng. Ngoài ra còn có sự cạnh tranh giữa các cảm biến CCD và cảm biến CMOS (Bảng 1), về chất lượng hình ảnh, hiệu suất, khả năng tích hơp và giá thành. Sự khác biệt chính giữa hai loại cảm biến nằm ở cách biến tín hiệu ánh sáng thành tín hiệu số. Điểm ảnh trong một bộ cảm biến hình ảnh CCD nắm bắt ánh sáng và di chuyển nó đến các cạnh của chip, nơi ánh sáng được chuyển thành tín hiệu kỹ thuật số. Hiện nay các cảm biến CMOS đã được ứng dụng phổ biến hơn, và dự đoán tương lai thị trường cảm biến CMOS sẽ có mức tăng trưởng đáng kế.
Bảng 1: So sánh đặc điểm giữa cảm biến hình ảnh CCD và CMOS
Những tiến bộ trong công nghệ đóng gói đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các cảm biến độ phân giải cao trong thị trường ứng dụng phổ thông. Tác động của sự thay đổi này sẽ thấy rõ rệt trong một thời gian ngắn, dự đoán là trong gian đoạn 2010-2012. Khi thị trường thiết bị di động đạt độ bão hòa, nhu cầu cảm biến hình ảnh có thể sẽ giảm nhẹ trong phần còn lại của giai đoạn dự báo 2010-2015.
Hội tụ kỹ thuật số
Những tiến bộ khác nhau trong công nghệ kỹ thuật số cho phép các nhà sản xuất dễ dàng kết hợp các chức năng mà trước đây độc lập hoặc chưa thể được tích hợp vào một thiết bị duy nhất. Điều này được sử dụng làm tiêu chí phân biệt giữa các nhà sản xuất trong một thị trường rộng lớn với nhu cầu ngày càng tăng cho các thiết bị cầm tay, máy ảnh kỹ thuật số… Ví dụ, một điện thoại di động tiêu chuẩn thường đi kèm với một máy ảnh, kết nối không dây, khả năng phát lại âm nhạc… Các thiết bị này tất cả-trong-một hiện rất phổ biến, dẫn đến tăng lượng sản xuất cảm biến hình ảnh, cho cả hai dòng cảm biến CCD và CMOS. Việc số hóa cũng cho phép các tập tin hình ảnh được lưu trữ điện tử, và lấy ra một cách dễ dàng, thích hợp cho cả việc lưu trữ và xử lý.
Hiện nay, hầu hết các nhà sản xuất cảm biến hình ảnh đến từ khu vực châu Á, đặc biệt là Nhật Bản. Trong số các công ty lớn, nổi bật là Sony và Matushita, và Hamamatsu. Ngoài ta, hiện nay có sự vươn lên của các công ty Hàn Quốc như Samsung và LG. Các nhà sản xuất khác tham gia thị trường ở mức độ trung bình và nhỏ.
Hầu hết các nhà sản xuất tập trung vào việc cải thiện sản phẩm hiện có và phát triển các sản phẩm cảm biến hình ảnh mới.
Độ nhạy và độ tin cậy
Các điều kiện bên ngoài, chẳng hạn như cường độ của ánh sáng xung quanh, ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh thu được. Độ nhạy của các cảm biến hình ảnh hiện nay được đánh giá qua độ tối và nhòe của hình ảnh. Các nhà sản xuất cảm biến đưa ra các phương pháp khác nhau để giải quyết, bằng phần cứng hoặc mềm, cải thiện hình ảnh dưới điều kiện độ sáng thấp hoặc các đối tượng hình ảnh chuyển động.
Cùng với việc chuyển đổi sơ đồ cảm biến, công nghệ cảm biến mới cho phép các điểm ảnh nhỏ hơn mà không ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh. Bằng cách tăng cường độ nhạy sáng lên  2-4 lần, tốc độ màn trập của máy ảnh được tăng lên, giúp loại bỏ vấn đề nhòe và mờ ảnh. Các bộ lọc màu được sắp xếp đặc biệt để tạo ra màu sắc trong hình ảnh, bao gồm cả các điểm ảnh lỗi màu do sự nhạy sáng.
Năng lượng tiêu thụ
Một số thiết bị ứng dụng như PDA, điện thoại thông minh, máy ảnh kỹ thuật số… yêu cầu năng lượng tiêu thụ thấp. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của vấn đề hiệu suất sử dụng trong các thiết bị điện tử. Trong các cảm biến ảnh, việc tăng hiệu suất sử dụng sẽ có tác động vô cùng mạnh mẽ do phạm vi ứng dụng lớn. Theo ý kiến cá nhân, dự đoán các cảm biến hình ảnh CMOS sẽ được chú trọng do tiêu thụ điện năng thấp và yêu cầu ít thành phần bên ngoài hơn cảm biến CCD.
Tốc độ đáp ứng
Tốc độ đáp ứng là khả năng phản ứng lại trước tín hiệu của cảm biến, được đánh giá bởi kích thước của các tín hiệu phân phối bởi một bộ cảm biến hình ảnh trên một đơn vị năng lượng đầu vào quang học. Cả CMOS và CCD cảm biến hiện có đáp ứng tương đối thấp.
Với cảm biến CMOS, mỗi điểm ảnh của bộ cảm biến chuyển đổi tín hiệu ánh sáng thành tín hiệu số, với các bộ khuếch đại, lọc nhiễu và mạch kỹ thuật số. Những chức năng bổ sung dẫn đến thiết kế phức tạp, giảm tính thống nhất.
Trong trường hợp cảm biến CCD, đầu ra của cảm biến là tín hiệu điện áp. Kết quả là, nhiều khu vực của điểm ảnh vẫn còn có sẵn để chụp ánh sáng, dẫn đến tính đồng nhất cao.
Độ nhạy
Máy ảnh dùng cảm biến CMOS tốt trong điều kiện ánh sáng chói, do độ nhạy sáng thấp. Vì vậy, các máy ảnh này thích hợp để chụp ngoài trời hơn là trong nhà hoặc trong điều kiện thiếu sáng.
Các cảm biến CCD có độ nhạy sáng tốt hơn, vì vậy cho chất lượng hình ảnh tốt hơn với máy dùng CMOS trong điều kiện thiếu sáng.
Hiện cảm biến CMOS đang được phát triển để sử dụng trong các điều kiện khác nhau, không phân biệt điều kiện ánh sáng môi trường xung quanh. Tuy nhiên đây vẫn là một việc lâu dài và chưa giải quyết triệt để trong khoảng thời gian đánh giá  từ năm 2010-2015.
CMOS so với CCD
Cảm biến hình ảnh CMOS được sản xuất với số lượng lớn cho nhiều ứng dụng cấp thấp, ví dụ như máy ảnh kỹ thuật số, PDA, và điện thoại di động, với một chi phí sản xuất khác nhau, từ 4 - 10 USD, tùy thuộc vào ứng dụng. Cảm biến CCD có chi phí sản xuất tốn kém hơn, do được sản xuất bằng cách sử dụng một quá trình sản xuất chuyên biệt hơn.
Xu hướng phát triển
Trong năm 2010, doanh thu thị trường thế giới cảm biến hình ảnh là 3,910.8 triệu USD, tăng 9,7% so với doanh thu năm 2009. Thị trường cảm biến hình ảnh thế giới đang tăng với tốc độ dự đoán 10,2% hàng năm. Tuy nhiên, một số các loại sản phẩm cá nhân có thể có tốc độ tăng trưởng cao hơn.
Nhu cầu thị trường
Nhu cầu của người dùng tập trung vào một số lĩnh vực sau đây:
* Máy ảnh kỹ thuật số
* Thiết bị quan sát
* An ninh và giám sát
* Hội thảo truyền hình, máy quay
* Điện thoại di động
* Máy quét
* Thiết bị y tế
* Chuột quang/lazer
* Thiết bị mã vạch
* Khoa học hình ảnh
* Không gian và quốc phòng
* Tự động hóa
* Trò chơi
* Sinh trắc học
* Các thiết bị cầm tay khác
Lấy ví dụ, nhu cầu cảm biến hình ảnh của thị trường trong năm 2011 phân bố như sau
Sự phát triển của công nghệ cảm biến hình ảnh hiện đang ngày càng tăng với khả năng ứng dụng vô cùng rộng rãi. Dự đoán nhu cầu này còn tiếp tục tăng đến năm 2015 và cho đến khi đạt bão hòa về thị trường/công nghệ, chờ đợi một sự đột phá tiếp theo.
Số 137 (5/2012)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay

Cửa tự động khu công nghiệp Yên Phong - Bắc Ninh



Cảm biến dịch chuyển theo phương pháp từ trường



Cảm biến đo dịch chuyển (thẳng hoặc góc) hoạt động dựa trên sự thay đổi của từ trường đã và đang được ứng dụng rất rộng rãi trong công nghiệp. Các cảm biến này đã thể hiện nhiều tính năng vượt trội so với các cảm biến hoạt động dựa trên nguyên lý khác như nguyên lý biến trở hay bộ mã hóa quang.

Ưu điểm quan trọng của chúng phải kể đến là đo không tiếp xúc. Không có mối liên hệ cơ học nào giữa thành phần cố định và thành phần dịch chuyển của cảm biến. Vì vậy tuổi thọ của các cảm biến này sẽ không bị giới hạn bởi hao mòn do ma sát. Thành phần cấu tạo cơ bản của chúng là nam châm vĩnh cửu hoặc nam châm điện, kết hợp với những vật liệu đặc biệt có khả năng nhạy với từ trường.
Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày các cảm dựa trên các hiệu ứng tiêu biểu như: từ giảo (magnetostrictive), từ trở (magnetoresistive), hiệu ứng Hall và mã hóa từ.
1. Cảm biến từ giảo (magnetostrictive)
Cảm biến từ giảo sử dụng vật liệu sắt từ để xác định vị trí của một nam châm dịch chuyển theo chiều dài của nó. Thân của chúng được giữ cố định, còn nam châm được gắn với đối tượng cần đo và dịch chuyển dọc theo thân cảm biến (H.1).
Hình 1. Cảm biến từ giảo.
Nguyên lý hoạt động dựa theo tính chất từ giảo của vật liệu sắt từ. Ảnh hưởng của từ trường lên những vật liệu này gây ra sự thay đổi về kích thước hoặc hình dạng của chúng. Vật liệu thuận từ nở ra, còn vật liệu nghịch từ co lại khi bị từ hóa. Những nguyên tố thường được dùng trong cảm biến từ giảo là các kim loại như sắt, côban, niken…
Thực tế, có thể coi vật liệu sắt từ là tập hợp của nhiều nam châm vĩnh cửu nhỏ, được gọi là các miền từ (domains). Mỗi miền bao gồm nhiều nguyên tử và được sắp xếp ngẫu nhiên khi chưa bị từ hóa. Khi vật liệu bị từ hóa dưới tác động của từ trường ngoài, miền quay với trục gần như song song nhau, gây nên hiện tượng từ giảo (H. 2).
Hình 2. Hiệu ứng từ giảo.
Sự biến dạng đồng bộ của các miền thực chất không có nhiều tác dụng đối với việc đo. Thông thường chỉ cần sự biến dạng cục bộ dựa trên hiệu ứng Wiedemann: khi một sợi dây từ giảo đặt trong từ trường trục có dòng điện chạy qua, nó sẽ bị xoắn tại điểm giao nhau với từ trường. Từ trường trục này được tạo ra bởi một nam châm vĩnh cửu. Chính sự tương tác giữa nó với từ trường tròn của dây dẫn đã sinh ra hiện tượng xoắn cơ học.
Trong cảm biến từ giảo, yếu tố cảm nhận là một dây hoặc thanh sắt từ (được gọi là ống dẫn sóng). Thiết bị sẽ đo khoảng cách giữa nam châm vị trí và đầu thu. Khi bắt đầu đo, một xung dòng điện được đưa vào ống dẫn sóng. Xung được sử dụng thường kéo dài 1-2 µs. Theo hiệu ứng Wiedemann, sóng xoắn cơ học sẽ xuất hiện tại điểm đặt nam châm vị trí. Sóng này di chuyển về cả 2 hướng lại gần và ra xa đầu thu với tốc độ 3.000 m/s. Khoảng thời gian từ lúc bắt đầu xuất hiện sóng (chính là thời điểm đặt xung dòng điện) đến lúc sóng tới đầu thu sẽ đặc trưng cho vị trí của nam châm. Phần sóng di chuyển ra xa đầu thu có thể đóng vai trò như nhiễu khi nó phản xạ ngược trở lại. Vì vậy, nó sẽ được khử ở đầu kia của ống dẫn sóng. Khu vực gắn vật liệu khử không có tác dụng cho việc xác định vị trí nên được gọi là “vùng chết”.
Thời gian đo được có thể đưa vào bộ nhớ đệm và sử dụng như kết quả trực tiếp, hoặc truyền tín hiệu về trung tâm để xử lý thông qua các chuẩn truyền dẫn công nghiệp như CANbus, HART, Profibus,...
Hệ số nhiệt độ có thể đạt từ 2 đến 5ppm/C. Do loại cảm biến này hoạt động chỉ dựa vào đặc tính vật lý của vật liệu nên chúng rất ổn định.
2. Cảm biến từ trở (magnetoresistive)
Trong hầu hết vật liệu từ, điện trở giảm dưới tác động từ trường khi sự từ hóa vuông góc với dòng điện. Mật độ từ thông càng tăng thì điện trở càng giảm, cho tới khi đạt trạng thái bão hòa từ. Lượng điện trở thay đổi khoảng 1% ở nhiệt độ phòng (0.3% với sắt, 2% với nickel). Khi từ trường song song với dòng điện, điện trở tăng khi cường độ từ trường tăng. Đây là những đặc điểm của hiện tượng từ trở (magnetoresistive - MR).
Khi một nam châm vị trí đến gần thành phần cảm biến từ trở, điện trở của thành phần này sẽ thay đổi. Sự thay đổi là lớn nhất khi nam châm đi qua tâm của nó. Sau đó mức độ thay đổi sẽ giảm dần tới khi nam châm hoàn toàn vượt qua thành phần này. Điện trở thay đổi được tính theo công thức sau:
R = Hiệu điện thế/(mật độ hạt mang điện x vận tốc hạt mang điện)
Một thiết bị đo sự dịch chuyển dài hơn có thể được thực hiện bằng cách sử dụng nhiều thành phần MR sắp xếp trên một đường thẳng. Chuỗi tín hiệu từ các cảm biến được giải mã để tìm ra thành phần MR bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi nam châm. Sau đó các phép đo rời rạc được tiến hành để xác định chính xác hơn vị trí của nam châm. Nguyên tắc này có thể tạo được những cảm biến có hiệu suất đo cao, tuy nhiên cần tính đến cả ảnh hưởng của nhiệt độ. Các cảm biến dài yêu cầu nhiều thành phần MR nên chúng đắt tiền và khó chế tạo.
Hiệu ứng từ trở của một vật dẫn có thể tăng bằng cách chế tạo với 2 hoặc nhiều lớp vật liệu có độ từ trở khác nhau. Không những thế, một số vật liệu có thể kết cấu tới 10 lớp giúp chúng bão hòa ở cường độ từ trường mạnh hơn.
3.Cảm biến Hall
Cảm biến Hall làm việc dựa trên hiệu ứng Hall. Khi từ trường tác dụng vào dòng điện trong vật dẫn theo những góc phù hợp, sẽ xuất hiện một hiệu điện thế Vh, được gọi là hiệu điện thế Hall. Hiệu điện thế này vuông góc với cả từ trường và dòng điện trong vật dẫn. Độ lớn Vhtỉ lệ thuận với cường độ dòng điện và từ trường, tính theo công thức:
VH = KH β I / z
VH - Hiệu điện thế Hall
KH  - Hằng số Hall
β  - Cường độ từ trường
I - Dòng điện chạy trong vật dẫn
z- Độ dày của vật dẫn
Hình 3. Mô tả cảm biến Hall.
Cảm biến loại này thường được chế tạo từ vật liệu bán dẫn (cả p và n đều được sử dụng với dòng điện phân cực phù hợp). Trong đo dịch chuyển, một bộ phận cảm biến Hall và một nam châm di động (tín hiệu ra tỉ lệ với khoảng cách giữa 2 thành phần này) kết hợp với nhau, hoặc có thể sử dụng 2 nam châm đặt cách đều như H. 4.
Hình 4. Đo dịch chuyển với cảm biến Hall.
Các cách sắp xếp này có giới hạn tuyến tính rất hẹp. Để tạo những cảm biến có khoảng đo rộng hơn, thường phải sử dụng nhiều cảm biến Hall đặt trên một giá đỡ và nam châm dịch chuyển dọc theo chiều dài giá đỡ. Khi nam châm lại gần và ra xa các thành phần cảm biến Hall, tín hiệu ra của cảm biến này sẽ tăng hoặc giảm tương ứng. Đầu ra của cả hệ thống được xác định bằng cách đọc và giải mã tín hiệu của những cảm biến ở gần nam châm nhất.
Phương pháp này tạo được những cảm biến dịch chuyển tương đối chính xác và có thể dài tới vài mét. Nhược điểm chính là khó sản xuất và đắt tiền bởi cần số lượng cảm biến Hall lớn.
4. Bộ mã hóa từ (magnetic encoders)
Bộ mã hóa từ sử dụng dải băng từ hoặc đĩa từ có lưu dữ liệu kĩ thuật số. Những dữ liệu này được ghi lại ở vị trí mà nó miêu tả, dưới dạng một tập hợp các vùng từ hóa hoặc không từ hóa. Một bộ mã hóa từ gồm có thành phần cảm biến, một hoặc nhiều đầu đọc, thành phần điện tử và vỏ cơ học với ống vào. Trục đầu vào di chuyển vào/ra đối với cảm biến thẳng và xoay được đối với cảm biến quay.
Hình 5. Bộ mã hóa từ.
Đầu đọc chứa một động cơ lõi sắt từ với dây điện vào/ra. Xung đọc được đưa vào đầu vào, thông tin đọc ra ở đầu ra. Nếu lõi nằm trên phần từ hóa của đĩa thông tin, lõi sẽ bị bão hòa và không tạo được xung ra, dẫn đến kết quả logic 0. Nếu lõi nằm trên phần không từ hóa thì khi xung đọc được đưa vào, xuất hiện xung đầu ra dẫn đến kết quả logic 1. Mỗi mã nhị phân tương ứng với một thông tin về vị trí. Xét ví dụ với cảm biến góc như hình dưới (mã nhị phân 3 bit, màu đen ứng với bit 1, màu trắng ứng với bit 0)
Mã nhị phân thông thường gây ra vấn đề cho bộ mã hóa: có những số cần thay đổi nhiều bit một lúc ngay cả khi chỉ thay đổi một đơn vị. Điều này có thể gây lỗi trong quá trình đọc. Để minh họa vấn đề này, ta xem xét việc xảy ra khi góc quay thay đổi từ 179,9° đến 180,1° (từ miền 3 đến miền 4). Theo như bảng trên, tín hiệu đầu ra thay đổi từ 0-1-1 đến1-0-0. Tuy nhiên trong thực tế, các đường phân cách giữa 2 miền không bao giờ thẳng tuyệt đối, vì thế các bit lần lượt thay đổi ở những thời điểm khác nhau. Nếu trình tự thay đổi của các bit là 1-3-2 thì để đi từ miền 3 đến miền 4, tín hiệu ra sẽ trải qua các trạng thái:
Hình 6. Bộ mã hóa từ dùng mã Gray.
0-1-1 (điểm bắt đầu)
1-1-1 (đầu tiên, bit 1 chuyển lên giá trị 1)
1-1-0 (sau đó, bit 3 trở về giá trị 0)
1-0-0 (cuối cùng, bit 2 trở về giá trị 0)
Đối chiếu vào bảng, ta thấy: các trạng thái tương ứng thứ tự sẽ là 3, 7, 6 và 4. Vì vậy, tín hiệu ra được hiểu là nhảy rất nhanh từ miền 3 đến 7, trở về 6 rồi mới đến 4. Trong nhiều tình huống, cách thể hiện này khiến hệ thống không ổn định và có thể gây ra lỗi hiểu nhầm.
Để tránh vấn đề này, người ta sử dụng một biến thể của mã nhị phân là mã Gray. Trong mã Gray, khi một số thay đổi một đơn vị thì nó chỉ thay đổi một bit.
Trong trường hợp này, sự dịch chuyển trạng thái từ miền 3 đến 4 (cũng như mọi sự dịch chuyển khác) sẽ chỉ làm thay đổi duy nhất 1 bit. Điều này sẽ tránh được việc giải mã sai tín hiệu như khi sử dụng mã nhị phân thông thường.
5. Kết luận
Xác định dịch chuyển của các vật trong công nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Việc mô tả và phân tích các nguyên lý hoạt động của các cảm biến đo dịch chuyển theo nguyên lý từ tính giúp hỗ trợ tốt cho việc lựa chọn các cảm biến phù hợp cho từng ứng dụng công nghiệp.
Đồng Thảo Phương, Nguyễn Đại Dương: Lớp Kỹ sư Chất lượng cao Tin học Công nghiệp K54, ĐH Bách khoa Hà Nội
Bùi Đăng Thảnh Viện Kỹ thuật Điều khiển và Tự động hóa, ĐH Bách Khoa Hà Nội
Số 146 (3/2013)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Ảnh hưởng của tự động hoá lưới điện đến độ tin cậy cung cấp điện


Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN chọn năm 2013 là năm khách hàng và yêu cầu các đơn vị trong Tập đoàn phải ngày càng cải thiện độ tin cậy cung cấp điện, do đó việc tự động hóa lưới điện ngày càng được quan tâm.
Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi sẽ trình bày ảnh hưởng của tự động hoá đến độ tin cậy cung cấp điện bằng cách tính toán và so sánh các chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện như: Tần suất mất điện trung bình của hệ thống (SAIFI), thời gian mất điện trung bình của hệ thống (SAIDI), thời gian mất điện trung bình của khách hàng (CAIDI), tần suất mất điện trung bình của khách hàng (CAIFI) cho lưới điện phân phối trước và sau khi tự động hoá.
Sử dụng các dữ liệu thống kê tính toán độ tin cậy cung cấp điện trên lưới điện miền Trung của Tổng công ty Điện lực miền Trung như bảng 1 sau:
Bảng 1: Số liệu tính toán độ tin cậy cung cấp điện.
Tên thiết bị
Cường độ hỏng hóc vĩnh cửu (λvc)
Cường độ hỏng hóc thoáng qua (λtq)
Thời gian sửa chữa (r) (giờ)
Máy biến áp
0,006
0,004
6,0
Máy cắt
0,020
0
4,5
Recloser
0,010
0
4,0
Đường dây
0,030
0,04
3,8
Cầu chì
0,0011
0,0007
1,6
Dao cách ly, LBS
0,006
0
3,7
Xét lưới điện phân phối như hình 1. Khi có tự động hoá các thiết bị thao tác bằng tay, khi có tự động hoá trình tự phối hợp giữa các recloser và dao cắt có tải tự động cố lập phân đoạn sự cố và tái cấu trúc lại lưới điện sau sự cố được trình bày tại hình 1, cụ thể như sau:
1. Lưới điện đang làm việc bình thường, các recloser và dao cắt có tải phân đoạn trên tuyến ở trạng thái đóng, trừ recloser liên lạc TR ở trạng thái cắt.
2. Khi có sự cố giữa dao cắt có tải S1 và S2. Đầu tiên recloser FR cắt, các dao cắt có tải S1, S2, S3 đếm một xung đóng cắt.
tudonghoaluoidien1
Hình 1. Sơ đồ phối hợp phân đoạn sự cố giữa recloser và dao cắt có tải
3. Recloser FR đóng lại lần 1, nếu thành công hệ thống khôi phục tình trạng cấp điện như ban đầu.
4. Nếu không thành công, recloser FR cắt ra lần 2, các dao cắt có tải S1, S2, S3 đếm hai xung đóng cắt. Dao cắt có tải S3 mở ra sau khi đếm 2 xung đóng cắt.
5. Recloser FR đóng lại lần 2, nếu thành công chứng tỏ sự cố sau S3, giữa dao cắt có tải S3 và recloser MR. TBA 1 tiếp tục cấp điện cho các phân đoạn không bị sự cố.
6. Nếu không thành công, recloser FR cắt ra lần 3, các dao cắt có tải S1, S2 đếm ba xung đóng cắt. Dao cắt có tải S2 mở ra sau khi đếm 3 xung đóng cắt.
7. Recloser FR đóng lại lần 3, nếu thành công chứng tỏ sự cố sau S2, giữa dao cắt có tải S2 và S3. TBA 1 tiếp tục cấp điện cho các phân đoạn không bị sự cố.
8. Nếu không thành công, recloser FR cắt ra lần 4, dao cắt có tải S1 đếm bốn xung đóng cắt và dao cắt có tải S1 mở ra sau khi đếm 4 xung đóng cắt.
9. Recloser FR đóng lại lần 4, nếu thành công chứng tỏ sự cố sau S1, giữa dao cắt có tải S1 và S2. TBA 1 tiếp tục cấp điện cho các phân đoạn không bị sự cố.
10. Recloser MR và TR chuyển nhóm bảo vệ để nhận điện từ TBA 2, sau đó recloser TR đóng lại một lần cấp điện cho các phân đoạn không bị sự cố. TBA 2 cấp điện đến đầu dao cắt có tải S3.
11. Nhân viên vận hành sẽ đóng lại dao cắt có tải S3 cấp điện cho phân đoạn S2 - S3 không bị sự cố.
12. Sau khi khắc phục xong sự cố, đóng lại dao cắt có tải S1 và S2, recloser TR sẽ cắt khi nhận thấy công suất qua nó giảm (khoảng 50%) hoặc hướng công suất qua nó ngược chiều. Recloser MR sẽ khôi phục lại nhóm bảo vệ ban đầu, hệ thống tái lập lại trạng thái làm việc bình thường của lưới điện.
tudonghoaluoidien2
Hình 2. Sơ đồ tính toán độ tinh cậy lưới điện phân phối 22kV.
Giả sử chiều dài, công suất, số lượng khách hàng trên từng phân đoạn của lưới điện trên như hình 2.
Ta tính toán độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện trên theo các phương án sau:
Phương án 1: Sử dụng máy cắt phối hợp với recloser, không có LBS 1, 2, 3.
Phương án 2: Sử dụng máy cắt phối hợp với recloser và các LBS 1, 2, 3. Các LBS này đóng cắt bằng tay. Thời gian thao tác các LBS 1 là 20 phút, LBS 2 là 25 phút, LBS 3 là 35 phút.
Phương án 3: Sử dụng máy cắt phối hợp với recloser và các LBS 1, 2, 3. Các LBS này đóng cắt tự động.
Kết quả tính toán các phương án bằng chương trình PSSE/Adept thể hiện trên các hình 3, 4, 5 và bảng 2.
Từ kết quả tính toán trên ta nhận thấy khi tự động hoá lưới điện phân phối, các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện như: Tần suất mất điện trung bình của hệ thống (SAIFI), thời gian mất điện trung bình của hệ thống (SAIDI), thời gian mất điện trung bình của khách hàng (CAIDI), tần suất mất điện trung bình của khách hàng (CAIFI) là tốt nhất.
Bảng 2 Kết quả tính toán độ tin cậy cung cấp điện.
TT
Chỉ số độ tin cậy
Phương án 1
Phương án 2
Phương án 3
1
SAFI
0,41
0,42
0,29
2
SADI
1,34
1,18
0,50
2
CAFI
1,00
1,00
1,00
4
CADI
3,28
2,83
1,72
tudonghoaluoidien3
Hình 3: Kết quả tính toán độ tin cậy cung cấp điện phương án 1
tudonghoaluoidien4
Hình 4: Kết quả tính toán độ tin cậy phương án 2
tudonghoaluoidien5
Hình 5: Kết quả tính toán độ tin cậy phương án 3
Kết luận:
- Với cách phối hợp các máy cắt, recloser và dao cắt có tải (LBS) như trên, ta sẽ nâng cao được độ tin cậy cung cấp điện nhờ việc hạn chế vùng chịu ảnh hưởng mất điện, bằng cách tự động cách ly điểm sự cố và tự động cấp điện lại cho các phân đoạn không sự cố. Do nhanh chóng cô lập điểm sự cố nên thời gian sửa chữa và khôi phục lại phân đoạn sự cố sẽ nhanh chóng hơn.
- Với yêu cầu của khách hàng ngày càng cao về số lượng, chất lượng và độ tin cậy cung cấp điện, việc tự động hoá lưới điện phân phối, phối hợp các thiết bị đóng cắt trên tuyến nhằm tự động cô lập điểm sự cố và tái cấu trúc lưới điện sau sự cố sẽ đem lại hiệu quả kinh tế do rút ngắn được thời gian mất điện, giảm tổn thất về doanh thu, giảm chi phí thời gian bảo dưỡng.
(theo: nangluongvietnam)

Quy trình sản xuất cửa mắt thần tự động RitsN